Người Việt Ngày Nay
Breaking News
Home / VĂN NGHỆ / Người Xưa Họa Thơ

Người Xưa Họa Thơ

Mỗi khi ai nhắc đến thơ Đường-luật thì phần đông các bạn trẻ ngày nay đều cho rằng thơ Đường-luật khó diễn tả hết ý tưởng phóng túng nên cố thi sĩ Quách Tấn lúc sanh tiền hiểu được tâm trạng băn khoăn ấy của các bạn trẻ mà phát biểu như sau : “Thể thơ Đường-luật, về hình thức, các nhà thi học phần đông đều công nhận là toàn hảo. Nhưng nó chỉ thích hợp với những tình cảm đã được tiết chế, với những tâm hồn trầm tĩnh, với những người nặng về đời sống nội tâm…!”.
Trong quyển “ Úc Viên Thi Thoại” cố thi sĩ Đông Hồ đã phát biểu về “ Họa Thơ” như sau : “ Bạn đã từng biết làm thơ khó khăn như thế nào, tài tình như sao, thì bạn lại càng thấy Họa Thơ khó khăn như sao, tài tình như sao. Họa Thơ không giản dị như Họa Đàn. Bảo là “họa” mà thực thì không hoàn toàn là Họa. Như họa đàn đó, mới đúng nghĩa là họa. Nghĩa là đôi bên, hoặc ba, bốn, năm, sáu vị danh cầm cùng nhau tấu chung khúc nhạc :trầm bỗng nhặt khoan cùng đi chung một cung bực. Có từng khi nào nghe ai họa đàn mà ngang cung lỗi nhịp bao giờ. Họa Thơ thì khác. Đồng ý với nhau mà chén thù chén tạc rồi cùng nhau Xướng Họa đã đành. Không đồng ý với nhau, mà cũng cứ Xướng, cứ Họa. Hoàn toàn đứng khác lập trường, quá hơn nữa, có khi thù hận nhau mà cũng cứ Xướng, cứ Họa… họa không thôi….! Và bạn có quên đâu, những bài thơ liên hoàn “Hơn thua chưa quyết đó cùng đây” của cử Trị họa lại những bài liên hoàn “Giang san ba tỉnh hãy còn đây” của Tôn Thọ Tường. Họa vần nhau đấy mà mắng chửi nguyền rủa chẳng tiếc lời nhau. Thế cho nên bảo rằng thi sĩ, trong làng thơ, họa thơ chẳng cùng một tính cách như họa sĩ, trong làng nhạc, họa đàn….!”.
Thơ Họa là cả một công trình nghệ thuật của Tiền Nhân! Tại sao chúng tôi lại dùng nhóm từ “Người Xưa Họa Thơ”, thưa, vì hiện nay thơ Đường-luật không còn nhiều mà thơ họa lại còn ít hơn nữa! – Đấy là theo thiển ý của chúng tôi! – Cố thi sĩ Quách Tấn từng đưa ra quan niệm Họa Thơ của Tiền nhân về mặt Hình-thức:
Gồm có :
1- Thứ vận
2- Dụng vận
3- Y vận
Như vậy Họa Thứ Vận là thế nào? Thưa, thứ vận là những vần mà theo đúng thứ tự của Vần bài Xướng:
Thí dụ Bài Xướng là bài thơ Cây Mai của Tôn Thọ Tường như sau:

Cây Mai
Đau đớn* thân mai cách dưới đèo
Mười phần trong sạch phận cheo leo
Sương in tuyết đóng cành thưa thớt
Xuân tới thu về cảnh quạnh hiu
Lặng lẽ chuông quen con bóng xế
Tò le kèn lạ mặt trời chiều
Những tay rượu thánh thơ thần cũ
Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.

Tôn Thọ Tường
*Có bản chép là “Cám cảnh, hay Thương xót…”

Bài Họa của thi sĩ Đông Hồ:
Cây Mai
Lọ thẳm khơi sông chót vót đèo
Rồng thiêng tiên náu bước xuân leo
Giang Nam mộng cũ xuân man mác
Thi xã hồn xưa gió hắt hiu
Cốt cách thẹn thò băng ngọc tối
Phong tao e ấp tuyết sương chiều
Năm ba hé nở năm ba nụ
Tâm sự nghìn xưa chút bấy nhiêu.

Đông Hồ
Nhà thơ Đông Hồ tâm sự rằng : “Thơ ‘Họa’ thường đã khó mà họa thơ này lại càng khó….Tuy là thơ Họa, có phải đâu chỉ muốn họa thơ cũ mà chơi, thật là dụng ý gọi hồn cổ nhân sống dậy mà nghe tiếng phán đoán phẩm bình của hậu thế.Tác giả Tôn Thọ Tường làm thơ Cây Mai đã từng một lần điếu cổ mà bâng khuâng lòng cảm cựu. Nay, họa thơ Tôn Thọ Tường là người họa thơ điếu cổ qua một lần điếu cổ, cảm cựu qua thêm một lần cảm cựu ; đem lòng bâng khuâng nghìn sau mà thắc mắc cho tâm sự nghìn xưa từng thắc mắc bâng khuâng, lấy mắt nhân thế tang thương mà nhìn suốt qua tầng lớp tang thương nhân thế…”.
Còn Dụng Vận thì sao? Dụng Vận là dùng những Vần bài Xướng nhưng lại không cần phải theo Thứ-tự, như bài Thơ Xuân của Đông Hồ xướng:

Thơ Xuân
Da ngọc ngà phô giấy nõn nường
Tóc huyền mun gợn mực yêu đương
Dịu thon lưng uốn đường sông núi
Trinh bạch lòng pha chất tuyết sương
Xiêm áo phong phanh tờ lụa ngỏ
Phấn hồng thoang thoảng bụi đường vương
Nàng thơ kiều diễm xuân kiều diễm
Chữ gấm lời hoa gởi bốn phương
.
Đông Hồ

Và chính thi sĩ Đông Hồ họa “ Dụng Vận” như sau :
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương
Tơ tình xưa để mối nay vương
Thơ lai láng khắp hồn kim cổ
Mực đậm đà thêm ý cỏ sương
Nhà ngọc mong treo vần diễm tuyệt
Lạng vàng dám đổi giá tương đương
Ơn nhờ son phấn duyên tri kỷ
Cho một lần xuân một nõn nường
.
Đông Hồ

Ngày sanh tiền thi sĩ Quách Tấn thường nhắc lời bình bài thơ Họa “Dụng Vận” này của học giả Nguyễn Hiến Lê: “vóc gấm đảo canh chỉ”, tức là đảo ngược 5 vần dưới lên trên, trên xuống dưới!”. Và “Y Vận” là dùng những vần cùng một “vận bộ”. Ví dụ: Nguyên Xướng dùng những vần “nường” thì bài Họa có thể dùng “đường”… Nghĩa là “bài Xướng” nằm trong “bộ Vận ương”. Đó là chúng ta mới nói qua hình thức của “Lối Thơ Họa”.
Rồi cố thi sĩ Quách Tấn xét đến “nội dung thơ họa”. Theo ông thì về “ nội dung” có những phép sau :
“Song Hành”: Người xướng và người họa đứng trên một lập trường, cùng diễn tả một ý tưởng. Ví như bài của Phan Văn Trị họa vận bài Tôn Phu Nhân Qui Thục của Tôn Thọ Tường:
Bái Xướng:

Tôn Phu Nhân Qui Thục
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô chạnh tưởng chòm mây bạc
Về Thục* đành trao mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mích lòng anh được bụng chồng.

Tôn Thọ Tường

*Có bản chép “ Về Hán…”
Bài họa:
Cài trâm sửa trắp vẹn câu tòng
Mặt giả trời chiều biệt cõi Đông
Khói tỏa trời Ngô un sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Phan Văn Trị

Còn họa theo “ Song lập” thì sao? Theo cố thi sĩ Quách Tấn thì “song lập” khác với “song hành”, vì “song hành” ý đồng mà “song lập” thì ý không đồng nhưng không phản. Ví dụ:

Ngày Xuân Tương Tư
Trách cái tầm xuân nhả mối tơ
Làm cho bối rối mối tương tư
Sương mù mặt đất người theo mộng
Nhạn lảng lưng trời kẻ đợi thơ
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa
Tương tư một mối hai người biết
Ai đọc thơ này đã biết chưa?

Tản Đà

Thi Sĩ Tản Đà tự họa :
Hỡi giống đa tình đã biết chưa
Tơ tằm vương mãi tự ngày xưa
Gió mưa bốn bể hồn theo bạn
Vàng ngọc trăm năm túi nặng thơ
Lửa đốt lòng son câu thế sự
Gương soi tóc trắng nỗi sầu tư
Thuyền nan sóng đánh tàu than hết
Giương cột giăng buồm một sợi tơ
.
Tản Đà

Còn phép “ tương ứng” thì như bài thơ của Cụ Nguyễn Khuyến hỏi thăm bạn:
Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giữa đồng
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không
Bây giờ mới thấy trầy da trán
Ngày trước đi đâu mất mảy lông.
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông.

Nguyễn Khuyến

Bài họa của bạn Cụ Nguyễn Khuyến :
Ông thăm tôi tôi trả ơn ông
Nó có lôi tôi đến giữa đồng
Những tưởng vun thu phòng lúc thiếu
Nào ngờ ky cóp lại như không
Chém cha thằng quỉ đen tai mắt
Chẳng nể ông già bạc tóc lông
Ông nhắn khuyên tôi tôi biết vậy
Thương ông tuổi tác cháu thì ngông.

Bạn cụ Nguyễn Khuyến

Còn “ tương phản” như 10 bài Xướng của Tôn Thọ Tường và 10 bài Họa của Phan Văn Trị. Nay chúng tôi chỉ đơn cử một bài như sau :

Giang san ba tỉnh hãy còn đây
Trời đất xui chi đến nỗi này
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đen nghịt khói tàu bay
Xăng văng chậm tính thương đòi chỗ
Thấp thỏm riêng lo tiếc những ngày
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay.

Tôn Thọ Tường

Cụ Phan Văn Trị họa :
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Chẳng đã nên ta phải thế này
Bến Nghé quản bao cơn lửa đỏ
Cồn rồng đâu mặc bụi tro bay
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở
Bủa lưới săn nai cũng có ngày
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há long lay.

Phan Văn Trị

Lam Nguyên sưu tầm
Seattle, Tết đến… nhớ Tiền Nhâ
n.

About nvngaynay

Comments are closed.

Scroll To Top