Người Việt Ngày Nay
Breaking News
Home / VĂN NGHỆ / Kinh Mân Côi

Kinh Mân Côi

Tư Kiên sưu tầm – (Người Công Giáo dùng Tháng Mười hàng năm để dâng kính Đức Mẹ Maria và gọi tháng này là Tháng Mân Côi. Hai chữ Mân Côi là âm Hán Việt để gọi Hoa Hồng (Rose) nhưng người Công Giáo Việt Nam vẫn cố giữ nguyên âm tự này, và qua thời gian nhiều người không để ý nên lầm cho rằng đây là từ riêng của Công Giáo. Bài sưu tầm này nói về nguồn gốc, ý nghĩa của một Phụng Vụ hàng ngày của tín hữu Công Giáo)

Kinh Mân Côi là một phương pháp cầu nguyện phổ biến và quan trọng của Giáo hội Công giáo Rôma. Bài Kinh (suy niệm), được hiểu là một bộ mười kinh. Mỗi “Ngắm” là mỗi mầu nhiệm còn được gọi là một “sự” (decade), tương ứng với một sự kiện về cuộc đời Chúa Giêsu và Mẹ Maria theo Tân Ước. Cho tới trước thế kỷ 21, Kinh Mân Côi bao gồm 15 mầu nhiệm, được chia làm ba nhóm:
-Mầu nhiệm năm Sự vui (Mysteria Gaudiosa)
-Mầu nhiệm năm Sự thương (Mysteria Dolorosa),
-Mầu nhiệm năm Sự mừng (Mysteria Gloriosa).
-và không có gì thay đổi cho đến năm 2002, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố thêm năm mầu nhiệm mới đó là Mầu nhiệm năm Sự Sáng (Mysteria Luminosa),
Như vậy, Kinh Mân Côi ngày nay có 20 mầu nhiệm.
Đọc Kinh Mân Côi hay còn được gọi là Lần Hạt, Lần Chuỗi vì khi đọc kinh, giáo dân dùng một bộ Tràng Hạt kèm theo. Sau mỗi “mầu nhiệm” được xướng lên để suy niệm giáo dân bắt đầu với 1 Kinh Lạy Cha (Pater Noster) kế tiếp là 10 Kinh Kính Mừng (Ave Maria) và kết bằng 1 Kinh Sáng Danh (Gloria Patri). Giáo dân có thể đọc thành tiếng, đọc chung hoặc đọc riêng và cũng có thể đọc thầm.
Nguồn gốc tên gọi
Xuất phát từ tiếng Latinh: Rosarium, nghĩa là khu vườn hoa hồng. Trong tiếng Việt, vì bị ảnh hưởng từ các cách phát âm của người Tàu, ta bắt chước (gọi là âm Hán Việt) nên Hoa Hồng gọi là Mân Côi còn được gọi bằng các âm na ná như: Văn Côi, Môi Côi, Môi Khôi, Mai Khôi…
Vị thế của Kinh Mân Côi
Kinh Mân Côi gắn liền với những cách thức tôn kính Mẹ Maria được nhiều vị Giáo Hoàng khuyến khích thực hành, đặc biệt là Đức Giáo hoàng Lêô XIII. Vị Giáo Hoàng này được mệnh danh là “Giáo Hoàng của Kinh Mân Côi” khi Ngài ban phép lành và làm lời kinh này trở nên phổ biến với tên gọi Rất Thánh Mân Côi. Do hiệu quả của Kinh Mân Côi và sự can thiệp của Mẹ Maria qua lời kinh này, mà Đức Giáo hoàng Piô V đã đưa Lịch phụng vụ Công giáo với danh xưng Lễ Đức Mẹ Mân Côi, (tổ chức vào ngày 7 tháng 10 hằng năm).
Lịch sử
Có những chi tiết khác nhau về lịch sử của Kinh Mân Côi. Theo truyền thống, Giáo hội tin rằng Kinh Mân Côi được Mẹ Maria trao cho Thánh Đa Minh vào năm 1214 tại nhà thờ Prouille, gần Toulouse miền Nam nước Pháp. Thực tế, việc cầu nguyện với một tràng hạt đã có nguồn gốc rất xa xưa. Vào những thế kỷ đầu tiên của Công Giáo, các tu sĩ trong vùng sa mạc Ai Cập có thói quen dùng những hạt cây hay những hòn sỏi nhỏ để đếm kinh – kinh này là Kinh Lạy Cha. Tùy mức độ sùng đạo, mỗi buổi sáng, họ quyết định số kinh sẽ đọc trong ngày tương ứng với số lượng hạt này rồi cho vào túi, đọc xong một kinh thì họ vứt đi mỗi hạt. Đến thời Trung Cổ, các tu sĩ có thói quen đọc 150 bài Thánh Vịnh mỗi ngày trong giờ Kinh Phụng vụ. Nhưng có nhiều người không biết đọc và viết tiếng Latinh nên họ không hiểu và đọc 150 kinh Lạy Cha để thay thế. Để đếm các kinh ấy, người ta dùng những hạt gỗ xâu vào nhau nhờ một sợi dây và gọi đây là tràng hạt kinh Lạy Cha (làm vậy cho tiện đỡ mất công đi kiếm hạt hoặc sỏi và đỡ nặng túi). Sau này, người ta dùng thêm Kinh Kính Mừng bên cạnh Kinh Lạy Cha. Thế kỷ thứ 7, là thế kỷ khởi sắc của việc sùng kính Đức Mẹ Maria, giáo dân bắt đầu phổ biến việc đọc 150 Kinh Kính Mừng thay cho 150 kinh Lạy Cha và gọi cách này là “Thánh Vịnh của Đức Mẹ”.
Thế kỷ 13, Thánh Đa Minh được sứ mệnh chống lại sự bành trướng của Lạc giáo Albigens. Theo tục truyền, năm 1213, Trinh nữ Maria hiện ra với ông và dạy phải dùng hai phương tiện để chiến thắng là giảng dạy và cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi. Từ năm 1410 đến 1439, một thầy tu tên là Dominique ở Köln, nước Đức đề nghị đọc theo một hình thức mới, chỉ có 50 kinh Kính Mừng, trước mỗi kinh có phần suy niệm một đoạn Phúc Âm. Ý tưởng này phổ biến và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ 16 đến tận đầu thế kỷ 20, cấu trúc của Kinh Mân Côi cơ bản vẫn không thay đổi, gồm 15 “mầu nhiệm” chia làm ba nhóm. Trong thế kỷ 20, người ta còn phổ biến kinh cầu Fatima vào đoạn sau của mỗi “mầu nhiệm”. Đến năm 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mới thêm vào Mầu nhiệm năm Sự Sáng – đây là sự thay đổi lớn của kinh này sau năm thế kỷ.
Cấu trúc của Tràng Hạt
Khi đọc Kinh Mân Côi, tín hữu thường dùng một cỗ chuỗi đi kèm gọi là Tràng Hạt, Tràng Hạt là một xâu chuỗi gồm 59 hạt kết nối với một cây Thánh Giá, “hạt” có thể bằng gỗ, nhựa, thủy tinh, kim loại… được xâu kết bằng dây hoặc bằng các khoen kim loại.
Cấu trúc của Tràng Hạt dùng trong Kinh Mân Côi thường theo trình tự sau:
Tượng Thánh giá: Dấu Thánh Giá và Kinh Tin Kính theo các Tông đồ
Hạt lớn đầu tiên: Kinh Lạy Cha
Ba hạt nhỏ tiếp đó, với ý xin củng cố ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy và đức mến): mỗi hạt đọc một Kinh Kính Mừng
Hạt lớn tiếp theo: Kinh Sáng Danh
Tiếp đến, đọc mầu nhiệm đầu tiên
Hạt lớn: Kinh Lạy Cha
Mười hạt nhỏ liền kề: tương ứng với 10 Kinh Kính Mừng, đồng thời suy niệm mầu nhiệm, sau đó đọc Kinh Sáng Danh và
Lời nguyện Fatima:”Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.”
Sang mầu nhiệm tiếp theo, tiến hành tương tự, cho tới khi hoàn thành hết cả năm mầu nhiệm.
Kết thúc bằng một Kinh Lạy Nữ Vương.
Các mầu nhiệm
Năm sự Vui
1. Thứ nhất thì ngắm (ngẫm): Thiên thần truyền tin cho Ðức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường.
2.Thứ hai thì ngắm: Ðức Bà đi viếng Bà Thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.
3.Thứ ba thì ngắm: Ðức Bà sinh Ðức Chúa Giêsu trong hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.
4.Thứ bốn thì ngắm: Ðức Bà dâng Ðức Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.
5.Thứ năm thì ngắm: Ðức Bà tìm được Ðức Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn.
Năm sự Thương
1.Thứ nhất thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.
2.Thứ hai thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.
3.Thứ ba thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng.
4.Thứ bốn thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá. Ta hãy xin được vác Thánh giá theo chân Chúa.
5.Thứ năm thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào Thánh giá Chúa.
Năm sự Mừng
1.Thứ nhất thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.
2.Thứ hai thì ngắm: Ðức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.
3. Thứ ba thì ngắm: Ðức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Ðức Chúa Thánh Thần.
4.Thứ bốn thì ngắm: Ðức Chúa Trời cho Ðức Mẹ lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Ðức Mẹ.
5.Thứ năm thì ngắm: Ðức Chúa Trời thưởng Ðức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Ðức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Ðức Mẹ trên nước Thiên đàng.
Năm sự Sáng
1.Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con Thiên Chúa.
2.Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu làm phép lạ tại tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa.
3.Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho được tin vào lòng Chúa thương xót và siêng năng lãnh nhận bí tích giao hòa.
4.Thứ tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.
5.Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được sốt sắng tham dự Thánh Lễ và rước Mình Máu Thánh Ngài.

About nvngaynay

Comments are closed.

Scroll To Top